Telemedicine – THAY ĐỔI NHÌN NHẬN THỜI COVID-19?
Mùa dịch bệnh, nhu cầu tư vấn- khám điều trị từ xa là gia tăng: nhiều bệnh mạn tính cần được tái khám nhưng BN ngại đến BV, người lớn tuổi và cách ly xã hội (social distancing), các bệnh đường hô hấp có biểu hiện nghi ngờ COVID… BS có thể cân nhắc và tự mình thực hiện “telemedicine” (DIY-Do It Yourself)? Cần nền tảng- dụng cụ nào (platforms & devices), hay chỉ cần “ Zalo group chat” với BN là xong? Làm sao có thể khám từ xa mà không tiếp xúc BN, xét nghiệm- cận lâm sàng thực hiện thế nào?…

Xin nêu vài thông tin cơ bản về telemedicine:

1.Telehealth: Khái niệm rộng hơn telemedicine, theo ATA ( American Telemedicine Association) là các trao đổi truyền thông y tế từ xa, bao gồm telemedicine và các dịch vụ liên quan y tế khác về đánh giá-theo dõi, dự phòng, giáo dục,v.v. Telemedicine liên quan gần đến tiếp cận lâm sàng, từ một đầu này đến đầu kia, có cho quyết định điều trị cho BN. Tuy nhiên ranh giới các khái niệm này dần mờ đi với tiến bộ kỹ thuật, mobile-health (m-health). Việc truyền dữ liệu trong telemedicine: đồng bộ thời gian thực (real time synchronous) ngay khi theo dõi monitor BN và truyền ‘không đồng bộ” (asynchronous)- lưu trữ và chuyển đi sau khi có hình ảnh dữ liệu bệnh án, ngày càng nhanh hơn- chỉ khác nhau là có dụng cụ kết nối tại chổ gắn trên BN hay không?

2.Tối thiểu để gọi đúng là “Telemedicine” cần có

  • Tư vấn từ xa (Tele-Consultation)-thông qua một app nào đó để có thể nói chuyện và thấy hình ảnh (video and chat enabled messaging app). Cái này thì quá đơn giản và có sẵn nhiều, còn gọi là “Video-conferencing” hay “Tele-Presence’
  • Theo dõi các dấu hiệu-triệu chứng BN từ xa (Tele-Monitoring): từ phía BN là các dụng cụ cảm ứng ghi nhận sinh học và monitor khác gắn vào cơ thể (wearable/bio-sensor devices & monitor); từ phía BS là thiết bị hiển thị, hệ thống cảnh báo dữ liệu BN (data display units + data analytic based alert & warining system)- các chỉ báo lâm sàng (dashboard). Như vậy Telemedicine (min) = Tele-consultation + Tele-monitoring.

 3. Chăm sóc điều trị từ xa (Remote Care) của telemedicine là “Tele-homecare” và cần các thiết bị chăm sóc toàn diện từ xa, mức độ trang bị phức tạp hơn telemedicine cơ bản. Trong các thực hành Telemedicine DIY- “tự làm lấy”, ít nói đến remote care và các giải pháp khác như tele-surgery/tele- critical care, cần có cơ sở y tế chuyên sâu về telemedicine tham gia. Kiểu telemedicine ở PK nhỏ hay phòng mạch tư của VN, nên là “Do-It-Yourself”.

Telemedicine bài bản đầy đủ sẽ bao gồm 4 thành tố: Thiết bị kết nối cá nhân (personal device) + thiết bị thúc đẩy/upload (aggregation management)-máy tính/mobile, monitor từ phía BN + Đơn vị dịch vụ telehealth service centers tạo giao diện hình ảnh dữ liệu (WAN-Wide Area Network/Health Record Network Interface) và dữ liệu lưu trữ-ghi nhận bệnh án sức khỏe (HER/EMR/HIE/NHIN) theo các chuẩn đồng bộ.

Tự làm ở mức nào về “tele-consultation”, có thêm “tele-monitoring” hay không là tùy tình hình của từng BS phòng mạch/PK, điều kiện từ phía BN liên quan đến các thiết bị y tế cảm ứng. Thêm một sự chọn lựa cho BN, tăng tương tác với NVYT một cách hiệu quả nên xem xét (chưa bàn đến các yếu tố cản trở, thách thức, khả năng thu phí- thanh toán và pháp lý trong bài này).

P/s: Bài về telemedicine trong COVID-19, đăng trên NEJM.
https://www.nejm.org/doi/pdf/10.1056/NEJMp2003539…

(Nguồn Bs Danh Nguyen)

Xem thêm: Content Marketing chăm sóc sức khoẻ – Cách làm chuyên nghiệp và bền vững

be the first to comment on this article

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *